Những bài dưới đây được mình sưu tầm trên mạng. Đầu tiên là về giọng nói của người Sài Gòn nhé:
Giọng nói Sài Gòn
Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…
Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.
Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu... Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” - Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…
Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”…Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.
Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm "v" như "về, vui, vườn, võng" nó cảm giác sao sao á, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào...
Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh…cho đến Sài Gòn, Tp HCM, dân Sài Gòn đã là một tập hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer…Các sử sách xưa chép lại, khi người Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá đông, rồi tiếp đó là người Hoa, và một số người tộc láng giềng như Malaysia, Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt văn hóa, làm ăn, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải nói đến ngôn ngữ.
Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì…” là mượn của người Hoa, những từ như “xà quầng, mình ên…” là của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.
Vậy nói cho cùng thì người Sài Gòn cũng có những tiếng gọi là “tiếng địa phương” (local dialect !?). Những tiếng này thể hiện rõ nhất khi người Sài Gòn nói chuyện cùng người miền khác. Nghe một người Sài Gòn nói chuyện cùng một người khác vùng, dễ dàng nhận ra những khác biệt trong lời ăn tiếng nói giữa hai người, hai miền. Có một số từ người Sài Gòn nói, người miền khác nghe rồi…cười vì chưa đoán ra được ý. Cũng như khi nghe người Huế dùng một số từ lạ lạ như “o, mô, ni, chừ, răng…” trong khi nói chuyện vậy thôi. Khác là mấy tiếng người Sài Gòn nói, vẫn có chút gì đó nó…vui vui tai, là lạ, ngồ ngộ và…bình dân làm sao.
Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ "dạ" khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ "vâng". Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ "vâng". Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói "vâng!" là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ "dạ" vào mỗi câu nói. "Mày ăn cơm chưa con ? - Dạ, chưa!"; "Mới dìa/dzề hả nhóc? - Dạ, con mới!"… Cái tiếng "dạ" đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó "thương" lạ...dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng "dạ" là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay...
Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.
Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.
Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.
Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”
Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.
Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.
Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó...tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như "cậu cậu - tớ tớ" của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.
Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn "ưa" tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì "Dì ơi dì...cho con hỏi chút...!" - còn lớn hơn thì dĩ nhiên là "Bác ơi bác..." rồi. Những tiếng mợ, thím, cậu,... cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.
Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :
Ông đó = ổng
Bà đó = bả
Anh đó = ảnh
Chị đó = chỉ
...
Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng... ngộ nghĩnh dzậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ - Sài Gòn á nghen.
Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo... số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm...Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng...
Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng "anh-chị-em" đôi khi được...giản lược mất luôn, trở thành "Hai ơi Hai, em nói nghe nè..." và "Gì dzạ Út ?"...Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ "Út ơi...con nhờ chút!" hoặc với mấy chị tôi thì "Hai ơi Hai...em nói nghe nè!".
Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi...rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể "anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu Hai, mợ Hai, chú Ba..." một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi...lâu.
Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.
Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…
__________________
Nhẫn một chút sóng yên gió lặng
Lùi một bước biển rộng trời cao
-----------Reply---------
Phong cách người Sài Gòn
Sưu tầm
Nói đến phong cách người dân bình thường ở thành phố Hồ Chí Minh, ta nên dựa vào cơ sở:
• Đã gọi là phong cách, ít ra phong cách ấy cũng xuất phát từ hơn nửa thế kỷ, hoặc hơn nữa, không thể nhìn vào hiện tượng vài mươi năm rồi mất hẳn. Và trong tương lai, phong cách xưa vẫn còn tồn tại, phát triển, khó thay đổi về cốt lõi.
• Phong cách của người Sài Gòn so với cả nước không có gì khác lạ. Ở đâu trên nước Việt Nam mà người dân không hiếu khách, trọng nghĩa khinh tài, lanh lẹ, cần cù, nhưng ở Sài Gòn, phong cách ấy thể hiển đậm nét, ở vài khía cạnh nào đó.
Phong cách nào phải do trời đất ban cho, nhưng thành hình do hoàn cảnh bắt buộc con người phải thích ứng, hội nhập, bằng không thì dễ bị đào thải. Thích ứng để tồn tại, vươn lên. Hoàn cảnh do sinh hoạt kinh tế, với quy luật riêng. Ai cũng biết, đó là văn minh biển (Sài Gòn là hải cảng, ngay từ khi mở nước 300 năm trước), để giao lưu với các nước Đông Nam Á, sau đó là các nước phương Tây. Sài Gòn cũng là nơi nhộn nhịp với văn minh sông nước về phía đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, Sài Gòn còn là không cảng quốc tế quan trọng. Mà khi đã là vùng cảng, thì luôn luôn có nhiều dịch vụ cần thiết, để thu mua hàng hóa, phân phối hàng hóa… đời sống tương đối ddễ dàng hơn so với nông dân vùng xa, vùng sâu. Thành phố cảng phải có hạ tầng cơ sở cần thiết như nhà ở, đường xá, cống rãnh, bệnh viện, trường học, ăn uống, giải trí …
Một yếu tố quan trọng phải được nhắc đến, đó là trên đường mở nước, từ những làng mạc khép kín với lũy tre, làng xóm lần hồi mở rộng ra, chỉ còn ranh giới mơ hồ về quản lý hành chính. Người đã bỏ làng quê không bị ràng buộc chặt chẽ về luân lý phong kiến, thể diện gia tộc. Với phố cổ Hội An thời Chúa Nguyễn, mặc nhiên vua chúa phải ban hành cho phía Nam một qui chế dễ dãi. Quá khứ người tù đày, thường phạm bắt buộc phải đi khẩn hoang vẫn còn trong tiềm thức. Đi xa quê hương, nhưng vẫn gắn bó với sông Mã, sông Hồng, non sông liền một dải, chung một lịch sử, một văn hóa, cụ thể là về phong tục vẫn giữ cốt lõi, qua những lễ hội, văn hóa, văn học …
Người Sài Gòn cũng ưa nghe tin tức, hay còn gọi là tìm lượng thông tin, bởi vậy báo chí là là món ăn cần thiết. Họ đọc báo để tìm hiểu tình hình chung, đặc biệt là tin tức liên quan đến công việc làm ăn hàng ngày của mình. Thiếu lượng thông tin, hóa ra lạc hậu, thất bại trong việc làm ăn, vì tình hình luôn biến động từng giờ, từng phút. Và cũng vì ngành này liên quan đến ngành khác, người ta phải đọc báo để kiểm tra cho đầy đủ. Ngồi quán cà phê đọc báo, chờ bạn bè, ai không đọc báo thì lắng nghe người đã đọc tóm lược giùm. Ta không lấy làm lạ khi thấy báo bán chạy, nhất là báo Sài Gòn giải phóng, cần thiết để hiểu đường lối cho mọi công dân. Báo Công An thành phố Hồ Chí Minh bán chạy lạ thường, hợp với khẩu vị của nhiều giới: tin xác thực, đọc lên thấy vui. Lại còn biết được thủ đoạn gian manh để đề phòng. Đọc báo để giải trí, xem quảng cáo xe cộ, nhà đất… ngồi không cũng vô ích.
Giao thiệp với bạn bè, tìm bạn mới, trao đổi nhau số điện thoại, danh thiếp. Ăn uống lặt vặt, ai trả tiền cũng được, người tuy khác ngành nghề nhưng biết đâu sẽ giúp đỡ mình chuyện gì đó. Làm quen với anh phu xích lô, cũng là một dịp huống gì với một thương gia. Người đang thất nghiệp cũng có thể giúp đỡ ta khi có dịp.
Làm dịch vụ mua bán lớn nhỏ cần sự sòng phẳng. Làm ăn vui vẻ, bất chấp đối tác của mình có quá khứ như thế nào, miễn là giữ chữ tín. Ai gặp khó khăn, có thể thất tín, nhưng phải khiêm tốn xin lỗi.
Giận hờn để làm lành, với một tiệc nhỏ rồi bỏ qua, nhưng theo luật giang hồ là “bất quá tam”, nghĩa là đến lần thứ ba thì không khoan dung được.
Hào hiệp, nghĩ rằng người đến Sài Gòn đa số là kẻ sa cơ thất thế, vì vậy mà giúp đỡ tận tình, nhưng đừng hiểu lầm đó là ngây thơ, khờ khạo. Là vùng ít thiên tai, bão lụt nên dễ sống. Có nhiều dịch vụ linh tinh, nhờ thế người nghèo có thể sống được, thậm chí, nếu chịu khó thì cũng có thể khá lên được sau vài tháng. “Tiến thì về nội, thôi thì về ngoại”, còn hậu phương thì khá vững, đó là bà con, họ hàng bên vợ, là bạn bè chí cốt ở đồng bằng hoặc miền Đông.
Đàn bà ở Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung khá linh hoạt, giỏi làm kinh tế, nhất là trong nghề tiểu thương, tảo tần nuôi chồng con, hiếu đễ với cha mẹ. Ngoài ra còn có thói quen cho vay tiền bạc góp, làm ăn nhờ tiền vay này, “làm bữa nào xào bữa ấy”. Ta thấy suốt ngày, thậm chí đến 8 giờ khuya vẫn còn có người đi chợ mua rau cải, gạo cá.
Ham thích du lịch, nhất là đi chùa chiền, miếu mạo theo sự đồn đại của bạn bè. Tư tưởng đa thần, cái gì cũng theo, cũng tin, để cầu mong phước đức kinh tế thị trường quả là sự rủi may, cho nên giàu thì không dám khinh lờn thần thánh, nghèo thì khấn vái để được gặp may mắn.
Nét tích cực nhất của người Sài Gòn là làm điều từ thiện, theo cảm tính, dễ thương người. Luôn giúp người khuyết tật, nạn nhân bão lụt, thiên tai, theo quan niệm “không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”.
Hiện nay, những phong cách trên của người Sài Gòn vẫn còn thể hiện khá rõ. Mặc dầu lúc giao thời với kinh tế thị trường, một số người trẻ tuổi có những biểu hiện nông nổi, nhưng quá 50 tuổi, ai cũng trở về nguồn với kỷ niệm, với tâm linh.
Người viết: Lê Kiều Dung, NK Sinh 01-04
Dĩ nhiên tôi không có ý định cạnh tranh với nhà văn Sơn Nam về đề tài ẩm thực, tôi chỉ muốn nói về cái phố phường ăn uống của tôi mà thôi.
SG ra đường là gặp quán. Mà toàn quán ngon. Đất SG là cái đất đủ thứ đặc sản của 61 tỉnh thành tập trung về đây. Tôi ăn bún bò Huế trên đường VTS ở SG thấy thịt bò còn ngon hơn bún bò Huế trên đường LTT hay gần Đại Nội ở Huế. Tôi ăn chả cá lã vọng trên đường TQT thấy thơm hơn chả cá Lã vọng ở phố Lã Vọng Hà Nội. Tôi ăn cao lầu trên đường NTT ở SG thấy nước lèo còn ngon hơn cả tiệm cao lầu nổi tiếng gần chùa cầu Hội An. Đơn giản thôi, ở SG, nguyên vật liệu, phụ liệu ngon, thì món ăn cũng ngon hơn. Do đó, ở SG, đồ ăn mắc hơn những nơi khác.
Mà tôi ghét nhất là cái quán Ngon trên đường NKKN. Người SG chẳng ai vào quán đó ăn cả. Chỉ có dân tỉnh mới vào đó, vì đơn giản là họ ở tỉnh, họ đâu có rành đường, nên họ chỉ biết có mỗi cái quán đó bán nhiều đồ ăn, thế là xếp hàng rồng rắn kéo nhau vào ăn. Người SG không bao giờ xếp hàng đi ăn. Hồi Hà Nội bán phở mậu dịch, người SG đi ăn phở Hoà Pasteur, Phở Bình LCT, người phục vụ đem tô phở đến tận bàn rồi chúc ăn ngon miệng, 8 ngàn một tô. Bây giờ phở Hoà phở Bình bị thiên hạ kéo đến ăn nhiều quá, người SG tìm quán khác mà ăn. Ăn mà xếp hàng, chen chúc chật chội là không phải cách ăn của người SG.
-----------Reply---------
Người SG có một câu “ăn quận 5, nằm quận 3, la cà quận 1”. Muốn ăn ngon thì chạy vào quận 5, ở đó người Hoa sống nhiều, bán các món ăn trung quốc nhiều, mà món Hoa là đệ nhất ẩm thực. Muốn ở đẹp thì mua nhà quận 3, ở đó ngày trước là công sở, nhà ở của công chức chế độ cũ, xây nhà theo phong cách Pháp - Mỹ, đẹp và yên tĩnh, mà phong cách xây nhà của phương tây là đệ nhất kiến trúc. Muốn đi chơi thì chạy ra quận 1, ở đó có trục đường Nguyễn Huệ - Lê Lợi - Trần Hưng Đạo lúc nào cũng đông nghẹt người và vô số tụ điểm ăn chơi, giải trí.
Người SG thích ăn ngoài đường. Nhưng đường phố bây giờ bụi bặm quá, nên rủ nhau vào các quán gần bờ sông, quán sân vườn rộng rãi. Ngồi nơi trăng thanh gió mát, ăn uống cũng thấy ngon miệng hơn. Người SG thích gọi nhiều đồ ăn. Vào bàn là cứ gọi cho đã miệng, anh bồi thắc mắc hỏi lại khách là nhận được cái vỗ vai bảo đi làm đi… Gọi nhiều, mà ăn chẳng bao nhiêu, mời nhau đi ăn là ngồi nói chuyện, trao đổi chủ yếu, chứ chọc đũa thì phải đợi nhắc mới gắp thức ăn. Ăn ngoài đường vậy, nhưng người SG thích những bữa cơm gia đình. Nơi đó có vợ chồng con cái, có ông bà cha mẹ, có anh em cô dì, có đông người ngồi ăn thì câu chuyện mới vui, mới râm ran. Người SG ăn một bữa cơm tối có khi một tiếng đồng hồ.
Mà người SG đi ăn tiệc cũng lạ. Tôi nhớ hồi tôi còn nhỏ, mẹ tôi dắt tôi đi ăn đám tiệc gì cũng vậy, bắt tôi ăn trước một ít ở nhà, xong rồi mới được đi. Mẹ tôi nói, như vậy để không thôi vô tiệc mình cắm cúi ăn người ta nói mình chết đói. Người SG là vậy, khi đi ra ngoài ăn, nhất định không có hình ảnh “tì tì mà ăn”, “hốt lấy hốt để”, thà ăn xong rồi về nhà lục cơm nguội ăn, chứ không có chuyện cắm cúi mà ăn. Tôi nhớ mẹ tôi dạy: miếng ăn là miếng tồi tàn, đừng có vì một miếng ăn mà để người ta đánh giá.
Người SG làm khách thì không ai gắp miếng cuối cùng, còn làm chủ thì cố ép khách miếng cuối cùng, nên cuối cùng thừa ra một miếng không ai gắp. Người SG làm chủ thì không muốn khách thiếu đồ ăn, còn làm khách thì không muốn mang tiếng háo ăn, nên cuối cùng thừa thức ăn. Người SG làm khách thì mang quà đến cho chủ, còn làm chủ thì tặng quà cho khách mang về, cuối cùng ai cũng có quà. Người SG làm khách thì tiên chủ hậu khách, còn làm chủ thì tiên khách hậu chủ, cuối cùng để con nít và phụ nữ gắp thức ăn trước. Khách và chủ, đối với người SG là cả một văn hoá.
Nhưng người SG không có thói quen mời ăn như của những miền khác. Người SG khi ngồi vào bàn ăn, thì phép lịch sự là nhường cho chủ gắp thức ăn trước, nhường cho người lớn tuổi gắp trước, nhường cho người có vai về hơn mình gắp trước, nhường cho phụ nữ gắp trước. Nhưng thông thường, người gắp trước sẽ không gắp thức ăn vào chén mình, mà đáp lễ là gắp vào chén của người lớn tuổi, vân vân, theo thứ tự như trên. Người SG không văn hoa hoa mỹ bằng lời mời, mà người SG đối xử với nhau bằng cái lễ ẩn trong hành động. Đó là văn hoá ẩm thực của người SG. Tôi có mấy anh bạn Hà nội, vào SG ăn cứ chê người SG ăn chả mời mọc gì cả, cứ cắm cúi gắp thức ăn, nhưng gắp vào chén ai mới là vấn đề, chứ không phải mời bằng lời nói là vấn đề, hơn nữa, những người ngồi ăn chung bàn hôm đó, đâu phải người SG…
Người SG thích ăn món lạ, món mới, vì cái chất khai hoang vẫn là bản chất của họ. Nghe ở đâu có món lạ, món mới là tìm đến, xa xôi cũng đến. Nhưng người SG thích ăn ngon, nên món mới mà dở thì cũng chỉ lạ, không ai đến nữa. Tôi có cái sở thích ăn ngon, nên tôi hay đi xa để thưởng thức những món đặc sản. Tôi ra Hà Nội ăn thử chả cá Lã vọng mới thấy không ngon như quảng cáo, hôi mùi mắm tôm. Tôi ra Nha Trang – Quán Gió ăn thử món hải sâm và sứa biển, mới thấy không ngon như trong quận 5 họ chưng hải sâm với đường phèn và bạch quả. Tôi xuống An Giang ăn thử món bún nước lèo thấy cũng chỉ có bún và… nước lèo. Tôi lên Đà Lạt vào tuốt trong núi ăn thử thịt nai rừng nướng, thấy ngon nhưng nướng khét quá. Ăn nem ở Nha Trang cũng gần giống như Thủ đức, ăn thịt chó ở Nhật Tân cũng không ngon hơn ở Thị Nghè, ăn chí mà phủ (chè mè đen) ở Hội An thấy y chang cái bà gánh đòn gánh sáng sáng đi ngang nhà tôi bán. Ăn bắp cải hầm, artichaux hấp đường phèn ở Đà Lạt thấy cũng lạ, nhưng không làm tôi thèm, đến Thái Bình xem xem cái nhà máy cháo còn bán không, đến Nam định xem quê hương của Phở VN có ngon hơn ở những nơi khác không, đến Tiền Giang ăn thịt rắn ở trại rắn Đồng Tâm, ăn thịt cá sấu ở Hoa Cà Bình Triệu, thấy cũng chỉ lạ. Ăn thịt khỉ ở Núi Bảo Đại Đà Lạt thấy ác quá, ăn kỳ nhông ở Quy nhơn thấy nhờn nhợn, ăn thịt nhím ở Đà Nẵng thấy giống thịt gà…
Mà chung quy, tất cả những món này, ở SG chỉ cần mở danh bạ điện thoại hay gọi 1080 là có. Chẳng qua người SG thích đi đến tận cùng của sự việc, xem có thật là như vậy không, đó cũng chỉ là một cái bản tính của người SG mà thôi.
Viết bởi Demi Fantasy.
(sưu tầm)
-----------Reply---------
Trích:
taoviendat;
Mà tôi ghét nhất là cái quán Ngon trên đường NKKN. Người SG chẳng ai vào quán đó ăn cả. Chỉ có dân tỉnh mới vào đó, vì đơn giản là họ ở tỉnh, họ đâu có rành đường, nên họ chỉ biết có mỗi cái quán đó bán nhiều đồ ăn, thế là xếp hàng rồng rắn kéo nhau vào ăn. Người SG không bao giờ xếp hàng đi ăn. Hồi Hà Nội bán phở mậu dịch, người SG đi ăn phở Hoà Pasteur, Phở Bình LCT, người phục vụ đem tô phở đến tận bàn rồi chúc ăn ngon miệng, 8 ngàn một tô. Bây giờ phở Hoà phở Bình bị thiên hạ kéo đến ăn nhiều quá, người SG tìm quán khác mà ăn. Ăn mà xếp hàng, chen chúc chật chội là không phải cách ăn của người SG.
Vụ này em tớ thấy khá chính xác.
Có lần ra HN phải ăn phở xếp hàng tự phục vụ (Phở ở Phố Lò Đúc), quán thì mất vệ sinh, người bán thì cũng không nhìn mặt khách hàng...tự nhiên thấy chả có gì là ngon nữa cả 
-----------Reply---------
Trích:
Nguyên văn bởi taoviendat

.....
Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm "v" như "về, vui, vườn, võng" nó cảm giác sao sao á, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào...
…
Suty thì khoái chỗ này hichic.
Nhớ hôm con gái học lớp 1, đọc chính tả cho con muốn trẹo lưỡi luôn, ngẫm nghĩ mình cũng là người Việt mà đọc đúng tiếng Việt sao khó quá... Cuối cùng thì Suty phát hiện ra đó cũng là bản chất của người Nam Bộ, mộc mạc và dễ dãi. Các mẹ không tin cứ thử mà coi,
"Dzui dzẻ" phát âm dễ hơn "vui vẻ"
<dấu hỏi> dễ hơn <dấu ngã>
<hạt các> nói dễ hơn <hạt cát>.... hihihi
-----------Reply---------
Cám ơn Taoviendat (sorry, nick của bạn là gì vậy, hihi)
Tui đặc biệt thích đọc những bài viết về văn hóa từng vùng miền & văn hóa ẩm thực .

-----------Reply---------
Trích:
Nguyên văn bởi eskimo

Cám ơn Taoviendat (sorry, nick của bạn là gì vậy, hihi)
Tui đặc biệt thích đọc những bài viết về văn hóa từng vùng miền & văn hóa ẩm thực .

Đó là tên của mình bạn à : Tào Viễn Đạt..hihi...Con trai là Tào Vĩnh Thành....Kết hợp lại là : VĨNH VIỄN THÀNH ĐẠT (Ông Nội chơi chử...đó mà...)
-----------Reply---------
Trích:
Nguyên văn bởi eskimo

Cám ơn Taoviendat (sorry, nick của bạn là gì vậy, hihi)
Tui đặc biệt thích đọc những bài viết về văn hóa từng vùng miền & văn hóa ẩm thực .

Tớ cũng thế. Vì vậy tớ thấy topic này khá hay 
-----------Reply---------
Giao thừa là gì ? Theo Từ điển Hán Việt của Ðào Duy Anh nghĩa là cũ giao lại, mới đón lấy. Chính vì ý nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc giao tiếp giữa hai năm cũ, mới này, có lễ trừ tịch.
* Lễ trừ tịch
Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt đầu qua năm mới. Vào lúc này, dân chúng Việt Nam theo cổ lệ có làm lễ trừ tịch. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ để "khu trừ ma quỷ", do đó có từ "trừ tịch". Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ giao thừa.
* Cúng ai trong lễ giao thừa ?
Tục ta tin rằng, mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới. Lễ giao thừa được cúng ở ngoài trời là bởi vì các cụ xưa hình dung trong phút cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã (nhưng mắt trần ta không nhìn thấy được), thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì.
Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà trời đã cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà.
* Sửa lễ giao thừa
Người ta cúng giao thừa tại các đình, miếu, các văn chỉ trong xóm cũng như tại các tư gia. Bàn thờ giao thừa được thiết lập ở giữa trời. Một chiếc hương án được kê ra, trên có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm: chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã, đôi khi có thêm chiếc mũ của Ðại Vương hành khiển.
Ðến giờ phút trừ tịch, chuông trống vang lên, người chủ ra khấu lễ, rồi mọi người kế đó lễ theo, thành tâm cầu xin vị tân vương hành khiển phù hộ độ trì cho một năm nhiều may mắn. Các chùa chiền cũng cúng giao thừa nhưng lễ vật là đồ chay. Ngày nay, ở các tư gia người ta vẫn cúng giao thừa với sự thành kính như xưa nhưng bàn thờ thì giản tiện hơn, thường đặt ở ngoài sân hay trước cửa nhà.
* Lễ cúng Thổ Công
Sau khi cúng giao thừa xong, các gia chủ cũng khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà. Lễ vật cũng tương tự như lễ cúng giao thừa.
* Mấy tục lệ trong đêm trừ tịch
Sau khi làm lễ giao thừa, các cụ ta có những tục lệ mà cho đến nay, từ thôn quê đến thành thị, vẫn còn nhiều người tôn trọng thực hiện:
- Lễ chùa, đình, đền: Lễ giao thừa ở nhà xong, người ta kéo nhau đi lễ các đình, chùa, miếu, điện để cầu phúc, cầu may, để xin Phật, Thần phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình và nhân dịp này người ta thường xin quẻ thẻ đầu năm.
- Kén hướng xuất hành: Khi đi lễ, người ta kén giờ và hướng xuất hành, đi đúng hướng, đúng giờ để gặp may mắn quanh năm.
- Hái lộc: Ði lễ đình, chùa, miếu, điện xong người ta có tục hái trước cửa đình, cửa đền một cành cây gọi là cành lộc mang về ngụ ý là "lấy lộc" của Trời đất Thần Phật ban cho. Cành lộc này được mang về cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô.
- Hương lộc: Có nhiều người thay vì hái cành lộc lại xin lộc tại các đình, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm và bình hương bàn thờ nhà mình.Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt được lấy từ nơi thờ tự về tức là xin Phật, Thánh phù hộ cho được phát đạt quanh năm.
- Xông nhà: Thường người ta kén một người "dễ vía" trong gia đình ra đi từ trước giờ trừ tịch, rồi sau lễ trừ tịch thì xin hương lộc hoặc hái cành lộc ở đình chùa mang về. Lúc trở về đã sang năm mới và người này sẽ tự "xông nhà" cho gia đình mình, mang sự tốt đẹp quanh năm về cho gia đình. Nếu không có người nhà dễ vía, người ta phải nhờ người khác tốt vía để sớm ngày mồng một đến xông nhà trước khi có khách tới chúc Tết, để người này đem lại sự may mắn, dễ dãi cho gia đình.
-----------Reply---------
Lễ mừng thọ, Lễ chúc thọ:
Là tên gọi chung của cuộc vui tổ chức mừng tuổi thọ: “tiệc thọ” nhấn mạnh ở liên hoan ăn uống, “lễ chúc thọ” là của con cháu hay người dưới mừng thọ người trên. Phạm vi mời nhiều ít tùy theo mức tuổi được mừng, và khả năng của gia đình. thường có quà mừng bằng hiện vật, hay bằng những câu đối, bài thơ, bức trướng chúc tụng của bằng hữu hay họ hàng, con cháu. Có thể hát góp vui.
Lễ nhị hỉ (Lễ lại mặt):
Hai vợ chồng mang lễ vật về nhà bố mẹ vợ hôm sau ngày cưới (cưới chạy tang thì làm lễ tứ hỉ mà không làm nhị hỉ; lễ tứ hỉ thì 3 hôm sau mới tiến hành). Trong mâm lễ vật có một thủ lợn. Nếu cô dâu không còn trong trắng khi về nhà chồng thì thủ lợn bị cắt mất tai. Đó là một sỉ nhục lớn đối với nhà gái. Hạnh phúc gia đình coi như tan vỡ.
Lễ siêu thăng (Phật giáo):
Hay lễ siêu độ, cầu cho linh hồn người chết vượt được bến Mê. Theo nhà chùa, trong việc cầu siêu, cần trai giới thành khẩn và kén chọn những vị chân tu đạo hạnh làm lễ. Lễ bái đã đành, nhưng việc làm phúc là cần hơn, vì để tạo công đức gánh đỡ tội lỗi cho người chết.
Lễ tang (Tang lễ):
Nghi thức cúng lễ, chôn cất người chết, thể hiện quan niệm cho cấu tạo con người gồm thể xác và hồn phách, biểu lộ sự xót thương đối với người chết. Lễ tang cũng nhằm đưa linh hồn người chết tới chỗ an vui, được siêu sinh tịnh độ, nên cũng được gọi là việc ma chay. Nhiều chi tiết lễ tang được quy định trong cuốn “Thọ Mai gia lễ”. Theo sách, theo tập tục, nghi lễ khá phức tạp, nhưng thực tế thường được châm chước tuỳ hoàn cảnh gia đình. Chính Thọ Mai gia lễ đã ghi ngay ở trang đầu câu nói của Khổng Tử: “Tang, dữ kỳ dị dã, ninh thích” (“trong tang lễ, chủ yếu là nỗi đau buồn hơn việc theo đúng nghi thức”) (Luận ngữ, Bát dật). Lễ tang có thể chia thành ba phần: lúc lâm chung; chuẩn bị việc đưa đám, đưa đám và chôn cất.
Lễ trừ tịch (Giao thừa):
Lễ cử hành vào đúng lúc giao thừa đêm 30 tháng Chạp nhằm bỏ điều xấu của năm cũ, đón cái mới tốt đẹp của năm mới sắp đến (trừ = trao lại chức của vị thần năm cũ, tịch = đêm). Vị gia trưởng cho bầy đồ cúng lên bàn thờ gia tiên hay lập bàn thờ riêng đặt ngoài trời. Ở ngoài đình, miếu thì thủ từ bày bàn thờ ở giữa trời với các lễ vật như thủ lợn, gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu, vàng mã. Tới thời khắc giao thừa, chiêng trống đánh vang, ông chủ tế ra khán lễ, rồi dân chúng lễ theo, cầu xin thần linh phù hộ. Sau lễ giao thừa, các gia đình cúng thổ công, tức vị thần cai quản trong nhà; rồi chọn hướng xuất hành, hái lộc, xông nhà, đốt pháo…
-----------Reply---------
Lễ tiến thảo:
Lễ lập đàn giữa đình cúng tiễn quan ôn, khi trong làng có bệnh dịch lưu hành, dân làng có người chết. Ngoài đồ lễ của làng gồm vàng, hương, hoa quả, dân làng ai có gì thì mang ra cúng: gạo, rượu, tiền bạc, xôi chè… Cúng xong, đồ lễ của ai người đó mang về, đồ mã được đốt ngay tại đình. Gặp năm nhiều dịch hạn, nhiều người chết, lễ tiến thảo được tổ chức nhiều lần.
Lễ tịch điền (hạ điền):
Nghi lễ nhà vua cầy luống cầy đầu tiên vào đầu xuân để mở đầu việc đồng áng. Tương truyền, lễ do vua Thần Nông đặt ra. Thời Nguyễn, nghi lễ cử hành ở cửa Tả Đoan. Đúng giờ Mão, vua tế ba tuần rượu rồi cầy. Cầy được sơn son thếp vàng, có hai con bò phủ lụa vàng kéo, hai vị bô lão đi trước dắt bò, hai vị đi sau vùi thóc giống xuống đất. Nhà vua cày ba đường rồi giao lại cho các hoàng thân, các quan văn và quan võ cày tiếp. Lễ tịch điền còn có ở các tỉnh, huyện, xã. Ở làng xã dân mời vị Tiên chỉ hoặc chức sắc xuống ruộng làng cầy cấy. Khi ông cầy, dân làng té nước vào người ông, tượng trưng té nước vào cho cây lúa, mong nó tốt tươi.
Lễ thượng nguyên:
Tổ chức ở chùa (Rằm tháng Giêng). Tương truyền, ngày này Phật giáng lâm tại các chùa. Bởi thế, “Lễ Phật quanh năm, không bằng ngày rằm tháng Giêng”. Ngày này lễ vật dâng cúng là hoa quả, trầu, cau, xôi, oản, chè rượu, vàng mã và cả hình nhân nữa. Nhiều nơi còn làm lễ dâng sao (cúng sao để giải trừ tai ách quanh năm: ngày vía Thiên Quan). Ở gia đình cũng cúng gia tiên, Thổ công, Thần Tài…
Lễ tơ hồng:
Lễ tế Nguyệt lão, vị thần chủ việc hôn nhân. Bàn thờ bày ngoài sân. Trên hướng án bày xôi, gà, trầu, rượu… Chú rể quỳ trước, cô dâu quỳ sau để nghe đọc văn tế Tơ Hồng, tri ân Nguyệt Lão đã xe duyên, cầu xin bách niên giai lãi, rồi lễ mỗi người 4 lễ, một vái. Sau tiệc nhà trai thết, nhà gái ra về, cô dâu ở lại. Khách dự cưới thường mừng trướng điều, liễn điều, trà rượu… Khách dự cỗ được mang phần xôi thịt, bánh trái về.
-----------Reply---------
Luân thường ràng buộc anh, chị, em vào chữ đễ (thuận hoà, thương yêu nhau)
Ca dao:
Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
Tục ngữ :
Anh em như thể tay chân
Anh cả (trưởng tử hoặc thứ trưởng tử): Khi cha mẹ mất thay cha mẹ dạy bảo các em còn nhỏ, gây dựng cho các em khi khôn lớn, quán xuyến mọi việc trong gia đình (ma chay, giỗ tết...)
Thứ trưởng tử: Cha nhiều vợ, con vợ cả dù ít tuổi hơn vẫn được là anh, là chị. Nếu vợ cả không con trai, chồng có thể lấy con trai vợ lẽ hoặc vợ thứ để lập tự (lập người nối dõi) gọi là thứ trưởng tử, có quyền lợi như con cả (trưởng tử)
Con út: Nếu anh chị em đã ở riêng, con út ở với bố mẹ để hầu hạ. Con út được hưởng của cải bố mẹ để lại, nếu bố mẹ không còn gì mà anh chị em không tốt, con út chịu thiệt.
Tục ngữ: giàu con út, khó con út.
Anh em rể, chị em dâu: Chồng chị hoặc em gái mình; vợ của anh hoặc em trai mình, ít có sự thuận hoà trong đám người trên.
Anh chị em họ: Về bên nội gọi là anh chị em con chú, con bác. Về bên ngoại gọi là anh chị em con cô, con cậu hoặc con dì con già (dì là em mẹ, già là chị mẹ). Xuống đến hàng cháu là cháu chú, cháu bác, cháu gì cháu già. Những người anh, chị, em họ này là cháu nội, cháu ngoại của các ông bà, là anh chị em với nhau.
-----------Reply---------
Bài viết rất hay, cám ơn bạn Tào Viễn Đạt đã sưu tầm
Chúc bạn và gia đình vĩnh viễn thành đạt như ước mong của bậc cha ông.
-----------Reply---------
Khí hậu Việt Nam có từng mùa rõ rệt và mảnh đất này đã cung cấp biết bao hương hoa tinh túy nuôi dưỡng con người Việt Nam. Mùa nào thức ấy, vừa phong phú vừa đa dạng.
Trong bữa ăn thường ngày, đồ ăn thức uống đều dọn hết ra mâm, mọi người quây quần xung quanh. Mỗi người một cái bát, một đôi đũa, thỉnh thoảng một chén rượu, một ly nước là của riêng, còn lại đều để chung trên mâm. Khi ăn, chủ nhà mời khách, người dưới mời người trên, vừa quý trọng lại vừa đầm ấm.
Mâm cơm thông thường có món mặn, món xào và canh rau, thỉnh thoảng có thêm đĩa dưa chua vàng ươm, dưa giá trắng tinh hay dăm quả cà pháo giòn tan.
Món kho thường là cá quả (cá lóc), cá bống, cá nục, cá cơm… dùng nồi đất hay tô đá để kho với tiêu, đường, muối, bột ngọt… Thịt heo, thịt bò, thậm chí gà, vịt cũng trở thành những món kho ngon, đặc biệt người phương Nam thường kho với hột vịt, nước dừa làm cho món ăn vừa ngọt lại vừa béo.
Người Nam bộ có nhiều loại mắm được xem như đặc sản của địa phương, đó là mắm thái Châu Đốc, mắm ruột cá Đồng Tháp, mắm ruốc Kiên Giang, Vũng Tàu hay mắm còng, mắm tôm chà Gò Công… miền ven biển có thêm mắm mực, mắm mòi, mắm thu…
Một loại nước sốt không thể thiếu cho các món kho, nấu và chấm - loại “Quốc hồn, quốc túy” của các món ăn - nước mắm.
Các món xào bao giờ cũng có rau, củ hay quả. Rau là rau muống, rau cải (cải xanh, cải ngọt, cải thảo, bó xôi, bắp cải…); củ có củ cải, cà rốt, su hào, khoai tây…; còn quả gồm su su, đậu đũa, mướp đắng… Rau có thể xào với thịt bò, thịt heo, tôm, cá, thậm chí chỉ là xào với tỏi mà cũng rất thơm ngon.
Canh có khi là canh rau cải, rau dền, mồng tơi, rau đay… cũng có thể là bầu, bí luộc, mít non hầm, rau thường nấu với muối, đôi khi nấu với tôm, cua giã nhỏ. Một món canh tiêu biểu và rất được ưa chuộng trong bữa ăn là “canh chua”. Thôi thì đủ cả các vị - chua của me xanh, cay của ớt đỏ, ngọt của miếng thơm vàng, tươi mát của mớ rau sống, đôi khi chỉ là mộc mạc sau vườn của càng cua, rau đắng hay vài nhánh lá nghệ non, một mắm lá me tươi… và thật thơm nồng của biết bao gia vị khác. Tô canh vừa nóng, vừa ngon, lại vừa tăng sức khỏe.
Đồ uống thông thường là chè tàu, nước vối, nước mía, nước dừa, nước sâm, bông cỏ… Chỉ riêng chè cũng có nhiều cách uống, lá già trên cây hái về đun là chè tươi, búp non đem về sao khô là chè tàu, dùng nóng hay thêm đá lạnh. Cách uống chè tàu cũng là cả một nghệ thuật được lưu truyền lâu đời trong dân gian. Nhiều người uống chè giám thưởng rất sành, thứ chè nào có hương vị ra sao, hợp với khí chất thế nào, phải pha chế ra làm sao, ấm nào pha thì thơm, chén nào uống thì ngon, lò than và siêu nấu thế nào thì nước mau sôi…, những điều ấy, người sành chè phải nghiên cứu và phân biệt cho tinh tường. Rồi còn có các loại chè ướp hương, nào sen, nào nhài… Ướp hương cũng là kinh nghiệm của bao đời, từ việc lấy từng hạt gạo trong đài sen, trộn chung chè ngon, ướp kín trong một đêm, rồi cho vào cái túi giấy bóng kính để sao, bằng cách bọc quanh bình nước nóng cho khô mà không mất mùi. Cứ thế năm lần, bảy lượt mới được một ấm chè ngon, tách chè tỏa hương như có cả một ao sen ngan ngát.
Sau bữa ăn, người Việt Nam có thói quen “tráng miệng” bằng trái cây như chuối, cam, quýt, nhãn, vải, dưa hấu, vú sữa… Đó là những trái cây dễ mua, hợp khẩu vị, chứa nhiều chất bổ dưỡng cho cơ thể.
Khí hậu Việt Nam có từng mùa rõ rệt và mảnh đất này đã cung cấp biết bao hương hoa tinh túy nuôi dưỡng con người Việt Nam. Mùa nào thức ấy, vừa phong phú vừa đa dạng.
-----------Reply---------
1. Định nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy
a. Cúng
Khi có giỗ Tết, gia chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ bàn, chén bát, đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu kính, biết ơn, và cầu phước lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy, và vái.
b. Khấn
Khấn là lời cầu khẩn lầm rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ liên quan đến các chi tiết về ngày tháng năm, nơi chốn, mục đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời hứa.
Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính cẩn. Người ta thường nói khấn vái là vậy. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng từ khấn vái trong câu “Lầm rầm khấn vái nhỏ to,/ Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.” (câu 95-96)
c. Vái
Vái thường được áp dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái.
d. Lạy
Lạy là hành động bày tỏ lòng tôn kính chân thành với tất cả tâm hồn và thể xác đối với người trên hay người quá cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý nghĩa khác nhau.
- Thế lạy của đàn ông
Thế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và giơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy. Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.
Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa học và vững vàng. Sở dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn bị đứng lên cũng vậy. Sở dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.
Thế lạy phủ phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng thời quì hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập luyện hằng ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh thoảng quí cụ mới đi lễ chùa, phải cẩn thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng bằng.
- Thế Lạy Của Đàn Bà
Thế lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết. Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.
Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.
Thế lạy của đàn ông có vẻ hung dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển chuyển tha thướt, tượng trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất tiện là khi mặc âu phục thì rất khó lạy. Hiện nay ch
