Chúng ta đang sống trong những ngày, tháng cuối cùng trong thập niên đầu của thế niên kỷ thứ 3. Một thập niên, trôi qua với những ám ảnh kinh hoàng về thiên tai và nhân họa. Xung đột vũ trang và các hoạt động khủng bố triền miên ở Trung đông, Nam á cộng hưởng với động đất, sóng thần, lũ quét và các dịch bệnh bí hiểm. Tưởng như đã đẩy thế giới đến bờ vực của sự khốn cùng, những khát vọng về hòa bình, ổn định của nhân loại, hầu như đã bị tan biến vào khoảng không vũ trụ cùng với dư ba của những hồi chuông đồng vọng chào đón giao thừa thiên niên kỷ.
Trong các tai họa dồn dập đó, có lẽ những hình ảnh day dứt nhất với lương tri nhân loại có lẽ chính là cái chết của những bé thơ! Dù là bị ngạt hơi, đạn xé như trong vụ khủng bố đẫm máu, nhằm ngày khai giảng của các em: 1/9/2004 tại Beslan-Bắc Ossetia hay bầm dập trong đống bê tông đổ nát trong đại họa thiên tai ở Haiti mới đây thì cặp mắt nhắm nghiền trên gương mặt ngây thơ, vô tội của các em vẫn mang vẻ thanh thản như đang chìm vào một giấc ngủ dài. Quyền đầu tiên trong bốn nhóm quyền mà công ước về quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc nêu ra là quyền sống-còn. Dĩ nhiên, để được bảo vệ, chăm sóc được tham gia và phát triển, trước tiên các em cần phải được sống đã chứ. Nghiệt thay, những trớ trêu của lịch sử (thiên tai-nhân họa), đâu phải bao giờ cũng đồng hướng với lương tri! Chúng ta không thể thay đổi được những gì đã xảy ra, đó là một hiện thực, một hiện thực tàn nhẫn. Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể làm thay đổi được đối với những điều đang xảy ra, (ở một mức độ nào đó).
Cứu chuộc cả thế gian, đó là sứ mệnh vĩ đại mà không phải người bình thường nào cũng có thể ghánh vác nổi, song độ giúp những người khốn khó một ổ bánh mì cầm hơi để họ vượt qua lúc khốn cùng, thì tại sao không? Tôi luôn tin tưởng một cách nhiệt thành rằng, trên thế gian này, lòng từ ái bao giờ cũng nhiều hơn sự vô cảm. Song thật trớ trêu, bởi nhiều khi chúng luôn tồn tại cạnh nhau song dưới dạng thức của những đường thẳng song song. Sự vô cảm, có thể ít hơn, nhưng ác thay, nó lại luôn tung hoành ngang dọc ở những chỗ lẽ ra phải có lòng từ.
Tôi đã có những trải nghiệm cay đắng về điều đó khi nhận được câu trả lời lạnh tanh của một vị nữ quan chức truyền thông, ở một tỉnh Tây Bắc, khi tôi đưa cho chị ta xem tấm ảnh cận cảnh một cháu bé người Mông (tôi chụp trong chuyến đi công tác trên địa bàn tỉnh, như để chứng minh cho một vấn đề văn hóa mà chúng tôi đang thảo luận). Toàn bộ phần cằm phải của cháu trợt hết da, trơ ra những búi cơ đỏ loét, cùng lớp mỡ trắng bợt. Chị ta nhìn tôi vẻ ngạc nhiên “chuyện này thì có gì là lạ, những việc thế này thì ở đâu mà chẳng có?”
Cháu Hạnh
Quả nhiên là chuyện đó thì chẳng có gì là lạ, bởi ta có thể bắt gặp nó ở bất kỳ đâu, Tây bắc, Tây Nguyên hay… Tây phi, điều lạ ở đây chính là ánh nhìn ngạc nhiên và câu trả lời lạnh tanh của vị nữ quan chức truyền thông tỉnh kia. Rồi thì lại có chuyện về một nam nhà văn thản nhiên trút cả lọ tăm vào chiếc mũ lá rách của ông lão ăn mày, vì ông lão dám cả gan xen ngang vào câu chuyện giữa anh ta và cô bạn gái.
Ở một diễn biến khác, thì câu chuyện dưới đây dường như cũng mang một mẫu số tương tự. Đó là câu chuyện của một bé gái năm tuổi ở một xóm nghèo thuần nông thuộc tỉnh Thái Nguyên, hàng ngày cháu được bà nội (và gần như cũng là người thân duy nhất còn lại của bé) đưa đến lớp mẫu giáo tư thục trong xóm để vui chơi với bạn bè đồng trang lứa, nhưng cứ đến khoảng 10h thì bà lại phải ra đó bế cháu về nhà!
Sao vậy? đến đây chắc các vị sẽ không thể không bật ra câu hỏi? vâng, câu trả lời thật giản dị, bởi đó là giờ ăn trưa của nhà trẻ, bởi họ không có đủ số tiền hơn trăm ngàn đồng, để đóng tiền ăn cho cháu hàng tháng. Bởi sự thiếu may mắn của cháu bé, khi mới năm tuổi đầu đã vắng bóng cả cha lẫn mẹ. Bố cháu, anh Nông Văn Tửu (sinh năm 1977), một bệnh nhân tâm thần phân liệt, nói đúng ra thì khi sinh ra anh ta là một người hoàn toàn bình thường như chúng ta, nhưng một tai nạn (ngã xe đạp đập đầu xuống đất) thời thanh niên đã khiến anh ta vĩnh viễn mang chứng bệnh ác nghiệt đó suốt đời.
Khánh kiệt vì chạy vạy tiền của để thuốc thang, chạy chữa cho con, cuối cùng thì bệnh tình cũng có vẻ thuyên giảm, mừng quá gia đình vội hỏi cưới cho anh một cô thôn nữ chất phác hiền lành, một bé gái đã ra đời một năm sau đó những tưởng mọi sự đã được an bài, nhưng định mệnh nghiệt ngã vẫn chưa buông tha họ, bởi sau đó ít lâu, bệnh tình lại tái phát, khiến Nông Văn Tửu lâm vào trạng thái dở điên dở tỉnh, những lúc tỉnh táo anh thương vợ thương con vô cùng, đêm hôm vẫn vác đèn đi soi ếch, soi nhái về bán cho mấy quán đặc sản lấy tiền phụ vợ, mua gạo nuôi con.
Nhưng mỗi khi lên cơn, anh lại hung hãn lạ thường, một kích thích nhỏ cũng khiến anh ta nổi khùng, xuống tay đánh đập dã man những người thân thích ruột thịt của mình. Khi tôi đến thăm thấy bà Nguyễn Thị Nhung (mẹ anh Tửu), vẫn đang đi cà thọt, cà nhắc, bà kể đang bắc ghế thắp hương thì Tửu hỏi cái gì đó, chưa kịp trả lời, thì Tửu đã khùng lên xông vào vớ tầm điếu vụt cho bà một cái vào cẳng chân và vai, khiến bà quỵ xuống “như trời giáng ấy”. Những trận đòn vô cớ ngày càng nhiều đó đã khiến cô Phùng Thị Quế (vợ anhTửu) chịu không thấu, phải bỏ nhà đi biệt. Bệnh tình của Tửu càng ngày càng tệ, một lần nữa gia đình lại phải đưa xuống bệnh viện tâm thần tỉnh Thái Nguyên, nhưng không hiểu sao Tửu lại trốn về được và sau đó cũng bỏ nhà đi mất.
Thương con ông Nông Văn Sinh, bố Tửu cọc cạch đạp xe đi khắp nơi tìm con. Trên cái lộ trình đau khổ đó, vào một ngày xấu trời cách đây hơn hai tháng, định mệnh nghiệt ngã đã cướp đi sinh mệnh ông trong một tai nạn giao thông do chính ông gây ra (đói, mệt, đau đớn, dằn vặt và hàng đống các lí do tương tự, đã khiến ông quáng mắt…) ông ra đi mà lòng vẫn ôm hận vì chưa tìm được con!
Tình cờ khoảng một tuần sau đó, có người cùng xóm đi giao Lợn Mán cho các nhà hàng ở Hà Nội, đã tìm thấy Tửu nằm còng queo cạnh một đống rác ở quận Thanh Xuân, trên xác người trơ xương chỉ còn chiếc quần đùi rách, chân bong gân sưng vù, lở loét cùng mình, vết thương (Tửu kể là bị chó cắn) ở chân phải đã thối rữa đến mức, sinh ròi. Nhận được tin bố chết, anh như tỉnh hẳn, theo xe người kia về nhà.
Những người hàng xóm đã kể lại rằng về đến nhà anh đã lăn lộn, khóc lóc thảm thiết vô cùng trước bàn vong còn tươi chân hương của bố. Rồi anh hồi phục rất nhanh trong sự chăm sóc ân cần của bà mẹ. Ban ngày thì anh khoác bao lên đồi hái lá chè già mang ra chợ bán cho người ta nấu nước chè tươi (với giá 2000 Việt Nam đồng/kg), ban đêm lại cắt lốp xe cũ đốt đuốc đi soi ếch. Những lúc ngồi nhà, anh lại thừ người ra ôm chặt bé Hạnh. Thảm thay, những ngày êm đềm đó chưa kéo dài được đến hai tuần, thì vào một ngày xấu trời (vâng! lại một ngày xấu trời) cách đây gần hai tháng, Người mẹ khốn khổ đi làm đồng về đã thấy con trai mình đang nằm úp mặt xuống nền nhà, để rồi vĩnh viễn không bao giờ trở dậy.
Bà Nhung và cháu Hạnh bên căn nhà dột nát
Bà nghẹn ngào kể cho tôi nghe về buổi sáng cuối cùng của Tửu. Hôm ấy, sau khi lên chợ Giang Tiên để bán Chè tươi, được gần chục nghìn thì phải, anh mua cho con ba gói Bim Bim và vào hàng ăn một cái bánh rán. Khi về đến đầu làng, anh rẽ vào hiệu thuốc hỏi mua thuốc ngủ, nhưng chủ hàng họ không bán, loanh quanh thế nào, khi bà về đã xảy ra cơ sự như thế. Có người, cho rằng, Tửu tự tử chứ không phải chết tự nhiên, khi tôi hỏi sao không báo những nghi vấn đó với chính quyền để điều tra làm rõ, thì bà hốt hoảng xua tay, bà bảo lần ông chết, công an huyện họ xuống mổ tử thi, xong rồi họ bảo gia đình phải nộp 500.000đ tiền phí mổ tử thi (?!) tiền không có, phải đi vay mãi cũng chỉ được 450.000đ, vẫn thiếu của họ 50.000đ. Bà nhìn tôi ngơ ngác: “Mổ để làm gì hả anh, thôi thì số cháu nó đã vậy rồi anh ạ!”.
Nhìn ngôi nhà cấp bốn tiều tụy, đồ đạc không có thứ gì đáng giá năm mươi nghìn đồng, tôi hiểu, bà đã hành động đúng. Rồi bà lại kể cho chúng tôi nghe về hai gian nhà tường gạch sỉ, mái pro xi măng mà chúng tôi đang ngồi, bà bảo, cũng mới làm được hơn năm nay, trước là nhà gianh thôi, cũ quá, mỗi khi mưa gió cứ lung lay muốn sập, vay mượn mãi cũng được hơn chục triệu mua vật liệu, gạch thì ông ấy đóng, công thì hàng xóm họ hộ. Nghe có người mách bảo là hình như có chế độ gì ấy, cho tiền người nghèo xóa nhà gianh, nhà tạm.
Nhưng khi ra xã hỏi người ta trả lời bà là: “phải báo cho chúng tôi trước khi đặt móng, chứ bây giờ đang làm rồi mà cấp tiền, là sai nguyên tắc”. Tôi tin là những điều các nhân viên công quyền kia nói là hoàn toàn đúng, thậm chí ngay cả cái nguyên tắc thu phí mổ tử thi nữa (!). Có thể đang có những nguyên tắc như thế trong đời sống này. Tuy nhiên, tôi chỉ ngạc nhiên là vì sao họ không hiểu rằng đích cao nhất của những nguyên tắc ấy là để làm gì nếu không phải là vì CON NGƯỜI.
Tôi thành thực tin rằng, các vị như nữ nhà báo, nam nhà văn nêu trên, và những viên chức trong bài viết này, không hẳn đã là người cố ý ác tâm, có thể đặt trong những mối quan hệ khác, họ vẫn là những người bố, người mẹ, đầy chu đáo, tin cậy. Vấn đề ở đây, chính là do họ thiếu lòng vị tha, theo Hán việt từ điển, vị tha là có tấm lòng vì người khác (vị=vì; tha=khác). Khái niệm vị ngã (vì mình) của họ quá lớn: công việc của mình, quyền lợi của mình, nguyên tắc của mình… Vì mình điều đó đâu có gì là xấu, trừ các vĩ nhân, các bậc thánh, hoặc á thánh, đã được lịch sử lựa chọn, còn quảng đại chúng sinh như chúng ta, mấy ai không vì mình. Tôi rất thú một câu thành ngữ Anh “hãy làm từ thiện từ trong nhà mình trở đi”.
Song nếu bình tâm xét thì thấy rõ ràng trong 365 ngày/năm, trong 26.645 ngày/đời (theo tuổi thọ trung bình 73,5 của Việt Nam), thì có lẽ đến 99% thời gian chúng ta phục vụ cho mình, cho người thân của mình, chứ thời gian giành cho người khác được bao nhiêu. Chính thói vì mình thái quá kia, đã khiến ngón tay che lấp bầu trời, tính lợi kỷ quá lớn khiến cho họ không còn nhìn thấy người khác. Những kẻ đó, dù họ có tươi cười rạng rỡ trước ánh đèn flash khi đứng ra cắt băng khánh thành cho những ngôi nhà tình nghĩa, phát quà tết cho những hộ nghèo hoặc cao đàm khoát luận về những điều kỳ vỹ đến đâu đi chăng nữa. Thì về bản chất đó chính là những kẻ ích kỷ. Mà trong rất nhiều trường hợp, ích kỷ cũng đồng nghĩa với tội ác, ác một cách hồn nhiên, ác mà không nghĩ mình đang ác.
Xuân Canh Dần đang đến, tôi chân thành mong các vị thức giả, các chính trị gia khả kính, các vị đại gia danh giá, và đặc biệt là những người hảo tâm, mà tôi luôn nhiệt thành tin rằng họ luôn chiếm đa số trên thế gian này. Trong không khí đoàn tụ ấm áp, bên những bàn tiệc sang trọng, (mà có khi chỉ một chai rượu thôi, có khi đã đáng giá bằng cả gia tài của anh Nông Văn Tửu rồi.) Bên cạnh những bận tâm vĩ mô về thế thái, nhân tình, xin các vị hãy nghĩ đến hai bà cháu bé Hạnh, cô bé năm tuổi với câu hỏi bi bô, mà không bao giờ người bà đau khổ có thể trả lời được:
Bà ơi! Sao đến lúc các bạn ăn, bà lại bế cháu về hả bà?!
Nếu các vị còn giành ra 1% trong quĩ thời gian quí báu của mình, thì tôi xin được cung cấp một địa chỉ:
Bà NguyễnThị Nhung, xóm Đường Goòng, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên (bà Nhung là bà nội của bé Hạnh)
M?t ho c?nh th??ng t vnh?ng chuy?n kh
----Reply----
Đọc xong mà ứa nước mắt. Thương con quá con ơi và trách những người vô tình.

----Reply----
nguon "webtretho"
